Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

Hiện đại hóa kết hợp cơ chế một cửa: Mở đường cho hợp tác quản lý biên giới

Vũ Thành  28/03/2014 11:00 AM
Untitled 1

Kể từ khi được triển khai đầu tiên tại Singapore và Thụy Điển hơn 20 năm trước, Cơ chế một cửa (SW) được cơ quan Hải quan triển khai tập trung vào đơn giản hóa sự tương tác giữa cộng đồng doanh nghiệp và chính phủ nhằm thiết lập một cửa cho phép thương nhân gửi dữ liệu cũng như cơ quan chính phủ đưa ra quyết định thông quan. SW luôn giữ vai trò trung tâm trong chiến lược thông quan biên giới. Mặc dù mang tính đa dạng trong triển khai nhưng các hệ thống SW luôn hỗ trợ mô hình trao đổi dữ liệu điện tử cho phép: a) xuất trình dữ liệu và thông tin một lần; b) xử lý thông tin và dữ liệu một lần và đồng thời; và c) ra quyết định một lần cho việc giải phóng và thông quan hàng hoá.

Kinh nghiệm triển khai đã cho thấy nhiều thách thức dẫn đến giới hạn về số lượng cũng như phạm vi của các SW và thử thách về công nghệ chỉ là một trong số đó. Khảo sát của Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã chỉ ra những thách thức chính, không liên quan đến công nghệ, bao gồm: các vấn đề chính sách, tái thiết kế quy trình, hợp tác giữa các bên liên quan, quản lý sự thay đổi tổ chức và công tác quản trị.

Sự phát triển của SW, các xu hướng công nghệ, sự cạnh tranh kinh tế và tăng trưởng của thương mại toàn cầu đã dẫn đến làn sóng hiện đại hóa hải quan tại nhiều quốc gia, trong đó có 2 xu hướng công nghệ chính: thứ nhất, các công cụ và kỹ thuật chia sẻ dữ liệu cho phép tích hợp xử lý ở 3 mức độ gồm: giữa thương nhân và các cơ quan chính phủ; trong nội bộ cơ quan hải quan; và giữa các chính phủ; thứ hai, các công cụ phân tích trước và kho dữ liệu cung cấp thông tin tình báo cho phép quản lý sự tuân thủ của thương nhân, những thông tin này được sử dụng để đưa ra quyết định thông quan và thu thuế. Chính những xu hướng công nghệ này đã dẫn đến một loạt những thông lệ thực hành (Best practice) có mối liên quan chặt chẽ với nhau trong chương trình hiện đại hóa của các cơ quan quản lý biên giới bao gồm:

1.     Kết hợp giữa các cơ quan chính phủ để thông quan biên giới

Các dự án SW thường tập trung vào sự tự động hóa, sự phối hợp xử lý thông quan giữa các hệ thống và các nhân viên của các cơ quan quản lý biên giới. Sự tham gia của nhiều cơ quan chính phủ trong việc thông quan biên giới cho thấy giá trị tiềm năng của việc tự động hóa luồng công việc giữa các cơ quan này. Để đạt được mục tiêu tự động hóa thì yêu cầu phải thực hiện tích hợp cả kỹ thuật lẫn quy trình nghiệp vụ cũng như phối hợp để quản lý sự tác động tới quá trình hoạt động cũng như nguồn lực. Sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý biên giới có thể mở rộng trên nhiều khía cạnh của thông quan như giải phóng hàng, kiểm tra, đánh giá rủi ro cũng như cung cấp thông tin tình báo. Công tác triển khai có thể trên nhiều mức độ khác nhau từ mô hình trao đổi dữ liệu truyền thống tới việc tích hợp các quy trình thông quan giữa các bộ ngành yêu cầu sự kết hợp chặt chẽ về thủ tục và lịch trình kiểm tra, có thể tạo ra những tác động lên quy trình nghiệp vụ và kế hoạch công tác. Cơ quan Hải quan thường đóng vai trò dẫn đầu trong SW. Vị trí trung tâm của Hải quan được xác định trong sáng kiến Cơ chế một cửa ASEAN với việc xây dựng kênh một cửa cho phép hải quan ra quyết định thông quan hàng hóa.

2.     Thực thi hải quan dựa trên thông tin tài khoản

Thực thi hải quan căn cứ trên thông tin tài khoản tức là sử dụng tất cả các thông tin có sẵn về một tài khoản (ví dụ như tài khoản doanh nghiệp) để thực hiện các công tác hải quan trong đó phải kể đến 2 phạm vi điển hình đó là thu thuế và quản lý rủi ro. Mô hình tài khoản được ứng dụng trong thu thuế cho phép thực hiện một cổng thanh toán bao gồm tất cả các loại thuế gồm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế liên quan khác. Mặt khác, mô hình tài khoản được áp dụng trong quản lý rủi ro thông qua các mô hình đánh giá rủi ro dựa trên tất cả các thông tin lịch sử của người xuất nhập khẩu cũng như các bên liên quan đến giao nhận hàng hóa và thông tin trao đổi giữa các cơ quan thực thi. Việc đánh giá thông tin tài khoản để quản lý rủi ro thường được áp dụng cho mỗi giao dịch giống như việc cơ quan hải quan sẽ đánh giá rủi ro đối với mỗi từng tờ khai. Đối với công tác thu thuế dựa trên thông tin tài khoản thì sẽ áp dụng quy trình xử lý theo lô (batch process) do các giao dịch thanh toán thường được thực hiện một cách định kỳ. Trong cả 2 trường hợp, các hoạt động thực thi của Hải quan được thực hiện dựa trên tất cả các thông tin sẵn có về tài khoản. Tại Hoa Kỳ, các hệ thống, chương trình bảo vệ biên giới và Hải quan đã được triển khai hoàn toàn xử lý dựa trên thông tin tài khoản, bắt đầu từ năm 1999 với nhiều tài khoản và chương trình quản lý rủi ro được hợp nhất trong Quy trình Tuân thủ thương mại và Quản lý rủi ro. Tại Hà Lan, từ năm 2005 Cơ quan Hải quan và Thuế vụ đã giới thiệu mô hình giám sát theo chiều ngang dựa trên thông tin tài khoản doanh nghiệp. Hải quan và doanh nghiệp làm việc với nhau dựa trên sự minh bạch, niềm tin và hiểu biết; tất cả các bên liên quan kết hợp với nhau để đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật đặc biệt tại những địa bàn mà sự tuân thủ còn nhiều hạn chế.

3.     Thông quan dựa trên sự phân loại doanh nghiệp

Cơ quan hải quan một mặt phải kiểm soát rủi ro nhưng mặt khác vẫn phải đảm bảo tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ tốt. Sự phát triển của các chương trình Doanh nghiệp ưu tiên (AEO) và các quy chế thông quan phù hợp với từng phân khúc doanh nghiệp được căn cứ trên tỉ lệ tuân thủ cũng như mức độ tối ưu của quy trình nghiệp vụ. Công nghệ hiện nay cho phép ‘quản lý rủi ro theo hướng thông tin tình báo’ kết hợp với phương pháp đo lường khoa học và các kết quả kiểm tra, xử phạt, bắt giữ.

Phân loại doanh nghiệp chia việc xử lý của hải quan thành 2 lớp: việc xử lý thông quan thực sự được thực hiện tại lớp phía sau trong khi lớp hải quan phía trước chỉ làm nhiệm vụ trao đổi, tương tác với doanh nghiệp, như đã được triển khai thông qua SW. Quy chế hải quan trong SW yêu cầu các AEO phải thiết lập các phương thức mới để chuẩn hóa và kết hợp dữ liệu khai báo thông qua giao diện truyền thông đã được đơn giản hóa để giảm sự phức tạp cũng như chi phí thông quan. Phân loại doanh nghiệp dựa trên việc đánh giá chỉ số hoạt động đã công nhận giá trị mô hình nghiệp vụ kết hợp và mở rộng cho các đơn vị chức năng tại các khâu sau.

Thụy Điển đã tiên phong trong việc thiết lập chương trình thông quan dựa trên phân loại doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo quản lý sự tuân thủ thông qua 2 mô hình: Đánh giá chất lượng chuỗi cung ứng (StairWay) và mô hình đánh giá an ninh chuỗi cung ứng (StairSec). Cả 2 mô hình đã thiết lập mối liên hệ rõ ràng giữa mức độ rủi ro của thương nhân và mức độ được tạo thuận lợi thương mại mà thương nhân đó được hưởng.

4.     Các nhóm thực thi đa chức năng

Việc ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến hàng hóa và buôn lậu yêu cầu công chức thi hành phải có chuyên môn hiểu biết về hàng hóa và những rủi ro liên quan cũng như yêu cầu thiết lập các nhóm thực thi đa chức năng. Mô hình nhóm này sử dụng các kỹ năng đặc biệt được nhân rộng trên khắp các cảng, các cơ quan liên quan và sau đó hướng tới mục tiêu trên toàn quốc hoặc xây dựng trung tâm dữ liệu tập trung.

Các công cụ phân tích trước tại các trung tâm này kết hợp với nhóm liên ngành gồm Hải quan, Cảnh sát, Cơ quan xuất nhập cảnh, nông nghiệp, thông tin tình báo, các nhà phân tích mục tiêu có thể làm tăng đáng kể hiệu quả của các hoạt động quản lý biên giới và cho phép phản ứng nhanh trong trường hợp xảy ra sự cố, với nguyên tác hoạt động như là một trung tâm chỉ huy quốc gia đa ngành. Như việc Hải quan New Zealand đã khai trương Trung tâm mục tiêu và vận hành tích hợp (ITOC) vào năm 2011 với các nhân sự thuộc hải quan, các cơ quan bảo vệ biên giới, nông nghiệp, lâm nghiệp, hàng hải. ITOC kết hợp mọi thứ cần thiết để có thể xác định rủi ro từ người, hàng hóa và phương tiện.

Sự kết hợp 4 thông lệ thực hành nêu trên với SW truyền thống sẽ tạo thành mô hình vận hành cho phối hợp quản lý biên giới. Đây chính là sự bắt đầu của thời đại mới trong triển khai SW, một thời đại mà SW thêm một mục tiêu chiến lược mới đó chính là “hợp tác quản lý biên giới”.

                                                                     Nguồn tạp chí WCO

Liên kết
Đường dây nóng của Tổng cục Hải quan.
Liên kết tới Thống kê Hải quan
Tạp chí điện tử Hải quan Online
Nhận dạng động vật hoang dã
Truy cập mail ngành Hải quan
Diễn đàn cạnh tranh quốc gia
Số điện thoại các đường dây nóng
Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Số 9 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+8424) 39440833 (ext: 8621)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan